Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập Hán Dịch. Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Việt Dịch
1. Lúc bấy giờ, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát dùng sức thần thông tự tại oai đức danh văn, cùng vô lượng vô biên bất khả xưng sổ chúng đại Bồ Tát từ phương Đông mà đến; các nước đi ngang qua khắp đều rung động, rưới hoa sen báu, trổi vô lượng trăm nghìn muôn ức các thứ kỹ nhạc.
Lại cùng vô số các đại chúng: Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn v.v... vây quanh, đều hiện sức oai đức thần thông đến cõi Ta bà trong núi Kỳ Xà Quật, đầu mặt lạy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đi quanh bên hữu bảy vòng, bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con ở nơi nước của Đức Bảo Oai Đức Thượng Vương Phật, xa nghe cõi Ta bà này nói Kinh Pháp Hoa, nên cùng với vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức chúng Bồ Tát đồng đến để nghe thọ, cúi mong Đức Thế Tôn nên vì chúng con nói đó".
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn sau khi Như Lai diệt độ, thế nào mà có thể được Kinh Pháp Hoa này.
2. Phật bảo Phổ Hiền Bồ Tát rằng: "Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn thành tựu bốn pháp, thì sau khi Như Lai diệt độ sẽ được Kinh Pháp Hoa này: Một là được các Đức Phật hộ niệm; hai là trồng các gốc công đức; ba là vào trong chánh định; bốn là phát lòng cứu tất cả chúng sanh".
Thiện nam tử, thiện nữ nhơn thành tựu bốn pháp như thế, sau khi Như Lai diệt độ quyết được Kinh này.
3. Lúc đó Ngài Phổ Hiền Bồ Tát bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Năm trăm năm sau trong đời ác trược nếu có người thọ trì Kinh điển này, con sẽ giữ gìn trừ các sự khổ hoạn làm cho được an ổn, khiến không ai được tiện lợi rình tìm làm hại; hoặc ma, hoặc con trai của ma, hoặc con gái của ma, hoặc dân ma, hoặc người bị ma dựa, hoặc Dạ xoa, hoặc La sát, hoặc Cưu bàn trà hoặc Tỳ xá xà, hoặc Cát giá, hoặc Phú đan na, hoặc Vi đà la v.v... những kẻ làm hại người đều chẳng được tiện lợi.
Người đó hoặc đi, hoặc đứng, đọc tụng Kinh này, bấy giờ con cưỡi tượng vương trắng sáu ngà cùng chúng đại Bồ Tát, đều đến chỗ người đó mà tự hiện thân ra, để cúng dường thủ hộ an ủi tâm người đó, cũng để cúng dường Kinh Pháp Hoa.
Người đó nếu ngồi suy nghĩ Kinh này, bấy giờ con lại cưỡi tượng vương trắng hiện ra trước người đó, người đó nếu ở trong Kinh Pháp Hoa có quên mất một câu một bài kệ, con sẽ dạy người đó chung cùng đọc tụng, làm cho thông thuộc.
Bấy giờ, người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa được thấy thân con, lòng rất vui mừng lại càng tinh tấn, do thấy thân con nên liền được tam muội và Đà la ni tên là "Triền đà la ni", "Pháp âm phương tiện đà la ni", được những môn Đà la ni như thế.
4. Thế Tôn! Nếu đời sau, sau năm trăm năm trong đời ác trược, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, người cầu tìm, người thọ trì, người đọc tụng, người biên chép, mà muốn tu tập Kinh Pháp Hoa này, thời trong hai mươi mốt ngày, phải một lòng tinh tấn, mãn hai mươi mốt ngày rồi, con sẽ cưỡi voi trắng sáu ngà, cùng vô lượng Bồ Tát vây quanh, dùng thân mà tất cả chúng sanh ưa thấy, hiện nơi trước người đó để vì nói pháp chỉ dạy cho lợi ích vui mừng cũng lại cho chú Đà la ni.
Được chú Đà la ni này thì không có phi nhơn nào có thể phá hoại được, cũng chẳng bị người nữ làm hoặc loạn. Con cũng đích thân thường hộ người đó. Cúi mong Đức Thế Tôn nghe con nói chú Đà la ni này, liền ở trước Phật mà nói chú rằng:
"A đàn địa, đàn đà bà địa, đàn đà bà đế, đàn đà cưu xá lệ, đàn đà tu đà lệ, tu đà lệ, tu đà la bà để, Phật đà ba chiên nễ, tát bà đà la ni a bà đa ni, tát bà bà sa a bà đa ni, tu la bà đa ni, tăng già bà lý xoa ni, tăng già niết dà đà ni, a tăng kỳ, tăng già bà dà địa, đế lệ a nọa tăng già đâu lược, a la đế ba la đế, tát bà tăng già địa, tam ma địa dà lan địa, tát bà đạt mạ tu ba lợi sát đế, tát bà tát đỏa lâu đà kiêu xá lược, a nâu dà địa, tân a tỳ cát lợi địa đế".
Thế Tôn! Nếu có Bồ Tát nào được nghe chú Đà la ni này, phải biết đó là sức thần thông của Phổ Hiền.
5. Nếu Kinh Pháp Hoa lưu hành trong Diêm phù đề có người thọ trì, thời nên nghĩ rằng: Đều là sức oai thần của Phổ Hiền.
Nếu có người thọ trì đọc tụng ghi nhớ chân chánh hiểu nghĩa thú trong Kinh đúng như lời mà tu hành, phải biết người đó tu hạnh Phổ Hiền, ở nơi vô lượng vô biên các Đức Phật, sâu trồng gốc lành, được các Như Lai, lấy tay xoa đầu. Nếu chỉ in chép, người này mạng chung sẽ sanh lên trời Đao Lợi.
Bấy giờ, bốn muôn tám nghìn thiên nữ trổi các kỹ nhạc mà đến rước, người đó liền đội mũ bảy báu ở trong hàng thể nữ, vui chơi khoái lạc, huống là thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh hiểu nghĩa thú Kinh, đúng như lời mà tu hành.
Nếu có người nào thọ trì, đọc tụng, giải nghĩa thú Kinh, người đó khi mạng chung được nghìn Đức Phật trao tay, khiến chẳng sợ sệt, chẳng đọa vào đường dữ, liền lên cung trời Đâu Suất, chỗ Di Lặc Bồ Tát mà sanh vào trong hàng quyến thuộc trăm nghìn muôn ức thiên nữ, Đức Di Lặc Bồ Tát có ba mươi hai tướng, chúng đại Bồ Tát cùng nhau vây quanh. Có công đức lợi ích như thế cho nên người trí phải một lòng tự chép hoặc bảo người chép thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh đúng như lời mà tu hành.
Thế Tôn! Con nay dùng sức thần thông giữ gìn Kinh này, sau khi Như Lai diệt độ, làm cho rộng lưu bố trong Diêm phù đề khiến chẳng dứt mất.
6. Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khen rằng: "Hay thay! Hay thay! Phổ Hiền! Ông có thể hỗ trợ Kinh này làm cho nhiều chúng sanh an vui lợi ích, ông đã thành tựu bất khả tư nghì công đức, lòng từ bi sâu lớn, từ lâu xa đến nay phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, mà có thể thực hành nguyện thần thông đó, để giữ gìn Kinh này.
Ta sẽ dùng sức thần thông giữ gìn người hay thọ trì danh hiệu Phổ Hiền Bồ Tát.
Phổ Hiền! Nếu có người thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh tu tập biên chép Kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó thì là thấy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, như từ miệng Phật mà nghe Kinh điển này. Phải biết người đó cúng dường cho Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, phải biết người đó được Phật Ngài khen lành thay, phải biết người đó được Thích Ca Mâu Ni Phật lấy tay xoa đầu. Phải biết người ấy được Đức Thích Ca Mâu Ni Phật lấy y trùm cho. Người như thế chẳng còn ham ưa sự vui trong đời, chẳng ưa kinh sách viết chép của ngoại đạo, cũng lại chẳng ưa gần gũi ngoại đạo và các kẻ ác, hoặc kẻ hàng thịt, hoặc kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, hoặc thợ săn, hoặc kẻ buôn bán sắc gái. Người đó tâm ý ngay thật có lòng nghĩ nhớ chơn chính có sức phước đức. Người đó chẳng bị ba món độc làm não hại, cũng chẳng bị tính ghen ghét, ngã mạn, tà mạn, tăng thượng mạn làm não hại. Người đó ít muốn biết đủ, có thể tu hạnh Phổ Hiền.
7. Phổ Hiền! Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nào thấy người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa phải nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng, phá các chúng ma thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, chuyển pháp luân, đánh pháp cổ, thổi pháp loa, rưới pháp vũ, sẽ ngồi trên pháp tòa sư tử trong đại chúng trời người.
Phổ Hiền! Nếu ở đời sau, có người thọ trì đọc tụng Kinh điển này, người đó chẳng còn lại ham ưa y phục, giường nằm, những vật nuôi sống, chỗ mong cầu chẳng luống, cũng ở trong hiện đời được phước báo đó.
Nếu có người khinh chê đó rằng: "Ông là người điên cuồng vậy, luống làm hạnh ấy trọn không được lợi ích". Tội báo như thế sẽ đời đời không mắt. Nếu có người cúng dường khen ngợi đó, sẽ ở trong đời này được quả báo hiện tại.
Nếu lại thấy người thọ trì Kinh này mà nói bày lỗi quấy của người đó, hoặc thật, hoặc chẳng thật, người này trong hiện đời mắc bệnh bạch lại(14). Nếu khinh cười người trì Kinh sẽ đời đời răng nướu thưa thiếu, môi xấu, mũi xẹp, tay chân cong quẹo, mắt lé, thân thể hôi dơ, ghẻ dữ máu mủ, bụng thũng hơi ngắn, bị các bệnh nặng dữ.
Cho nên Phổ Hiền! Nếu thấy người thọ trì Kinh điển này phải đứng dậy xa rước, phải như kính Phật.
8. Lúc Phật nói phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát này có hằng hà sa vô lượng vô biên Bồ Tát được trăm nghìn muôn ức môn "Triền đà la ni", tam thiên đại thiên thế giới vi trần số các đại Bồ Tát, đủ đạo Phổ Hiền.
Lúc Phật nói Kinh này, Phổ Hiền v.v... các vị Bồ Tát, Xá Lợi Phất v.v... các vị Thanh Văn và hàng trời, rồng, nhơn, phi nhơn v.v... tất cả đại chúng đều rất vui thọ trì lời Phật làm lễ mà đi.
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
QUYỂN THỨ BẢY
I. Diệu Âm hạnh khắp, thành trước nên sau, hoằng dương Kinh này, toàn nhờ công tổng trì(15), tà ma ngoại đạo theo hơi gió lánh xa, đạo chơn thường lưu thông, muôn pháp đều viên dung.
Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
II. Pháp Hoa Hải Hội(16) Đức Phật thân tuyên, ba châu(17) chín dụ nghĩa kín mầu, bảy cuốn gồm bao trùm hơn sáu muôn lời, xướng tụng lợi người, trời.
Nam Mô Pháp Hoa Hải Hội Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng (3 lần)
III. Một câu nhiễm tâm thần. Đều giúp đến bờ kia. Nghĩ suy ròng tu tập. Hẳn dùng làm thuyền bè. Tùy hỷ thấy cùng nghe. Thường làm chủ với bạn. Hoặc lấy hay là bỏ. Qua tai đều thành duyên. Hoặc thuận cùng với nghịch. Trọn nhân đây được thoát. Nguyện này tôi giải thoát. Y báo cùng chánh báo. Thường tuyên Kinh mầu này. Một cõi đến một trần. Đều là vì lợi vật. Cúi mong các Đức Phật. Thầm nhờ hộ trợ cho. Tất cả hàng Bồ Tát. Kín giúp sức oai linh. Nơi nơi chưa nói Kinh. Đều vì chúng khuyến thỉnh. Phàm chỗ có nói pháp. Đích thân thờ cúng dường. Một câu cùng một kệ. Tăng tiến đạo Bồ đề. Một sắc và một hương. Trọn không hề thối chuyển.
IV. Trời, A tu la, Dạ xoa thảy. Đến nghe pháp đó nên chí tâm. Ủng hộ Phật Pháp khiến thường còn. Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy. Bao nhiêu người nghe đến chốn này. Hoặc trên đất liền hoặc hư không. Thường với người đời sanh lòng từ. Ngày đêm tự mình nương pháp ở. Nguyện các thế giới thường an ổn. Phước trí vô biên lợi quần sanh. Bao nhiêu tội nghiệp thảy tiêu trừ. Xa lìa các khổ về viên tịch. Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng. Thường trì định phục để giúp thân. Hoa mầu Bồ đề khắp trang nghiêm. Tùy theo chỗ ở thường an lạc.
Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát (3 lần)
THÍCH NGHĨA
(14) Bệnh bạch lại: Bệnh hủi (da tróc sần sùi, tóc mày đều rụng).
(15) Tổng trì: Tức là "Đà la ni".
(16) Hải hội: Hội lớn rộng rất đông như biển không thể lường biết!
(17) Ba châu: 1) Thuyết pháp chu, 2) Thí dụ chu, 3) Nhân duyên chu. Phụ - Bích Chi Phật: có hai hạng: 1) Ra đời không gặp Phật, không gặp chánh pháp, nhân thấy sự biến đổi trong đời như hoa héo lá khô, v.v... mà tự ngộ lý vô thường, dứt kiến tư hoặc, thoát ly sanh tử luân hồi, gọi là vị Độc Giác. 2) Ra đời gặp Phật, gặp chánh pháp, tu pháp "thập nhị nhân duyên" (xem Phẩm "Hoá Thành Dụ" thứ 7, quyển thứ ba), mà chứng ngộ vô sanh, thoát ly sanh tử luân hồi gọi là vị Duyên Giác, 2 bậc: Độc Giác cùng Duyên Giác căn cứ quả vị thì ngang với quả vị A la hán.
SỰ TÍCH
NGHE KINH THOÁT KHỎI THÂN CHIM
Đời Đường, đất Tinh Châu, nơi chùa Thạch Bích có một vị lão Tăng siêng năng tụng Kinh tham thiền – Cuối niên hiệu Tịnh Quán, có bồ câu làm ổ trên xiêng phòng mớm mồi cho hai chim con. Vị lão Tăng mỗi khi có thức ăn dư, thường đến bên ổ đút cho hai chim con. Sau hai chim con lần lớn lên tập bay rớt xuống đất chết. Lão Tăng lại chôn cất cho… Cách tuần sau lão Tăng lại mơ thấy hai đồng tử đến thưa vì đời trước tạo tội nên bị đọa làm thân bồ câu, gần đây nhờ nghe Thầy tụng Kinh Pháp Hoa và Kinh Kim Cang Bát Nhã, nên tội diệt phước sanh. Chúng con thác sanh làm con trai nhà ông… ở làng bên cạnh cách chùa mười dặm, mười tháng sau sẽ nên thân người. Vị lão Tăng y kỳ qua xem, thấy nhà có một người đàn bà đồng thời sanh hai đứa con trai, chính đương cùng đầy tháng. Lão Tăng bèn hô: "Thằng bồ câu". Hai đứa trẻ đồng đáp "Dạ". (Rút trong Minh Báo Thập Dị)
Đời Thanh, tỉnh Hồ Quảng, ông Liên Dẫn trưởng giả tại chùa Pháp Luân ở Đoan Châu nói với ông Thiết Kiều rằng: "Anh tôi ở một mình trên núi, hằng ngày tụng Kinh Pháp Hoa. Thường có một con chim trĩ hằng ngày đến nghe xong lại bay đi. Về sau đã mấy ngày mà vẫn không thấy đến… Cách núi chừng mười dặm có người làng sai người đến núi thưa với Thầy: "Vừa rồi có một người đệ tử của Thầy thác sanh làm con trai của chủ tôi, nhưng ngày gần đây cứ khóc mãi, không nín, nên chủ tôi sai tôi đến mời Thầy qua xem thử". Thầy tự nghĩ không có đệ tử nào, chỉ có một con chim trĩ thường ngày đến nghe Kinh, nay đã vài ngày rồi không thấy đến hoặc là chim trĩ ấy nhờ công đức nghe Kinh mà đặng sanh làm người chăng? Thầy liền đi qua nhà đó. Chủ nhà bồng con ra, đứa con vừa thấy Thầy liền thôi khóc vui mừng. Do đó mà định chắc là chim trĩ thác thân vậy. (Rút trong Thiết Kiều tập)
Triều Tấn, niên hiệu Ngươn Hưng, tại núi Dư Hằng có Thầy Sa môn tên Pháp Chi thường tụng Kinh Pháp Hoa, có chim trĩ bay liệng bên góc chỗ ngồi, hình như nghe Kinh, như thế đến bảy năm, chim trĩ chết. Thầy chôn cất. Đêm đó Thầy chiêm bao thấy tên đồng tử đến thưa rằng: "Con nhơn vì nghe Kinh mà khỏi loài lông cánh, nay thác sanh vào nhà họ Vương ở trước núi đây" – Sáng ngày Thầy sai người qua hỏi thăm thật quả Vương thị vừa hạ sanh một trai. Ít lâu sau, họ Vương thiết trai, thỉnh quý Thầy. Thầy Pháp Chi vừa bước vào cửa, đứa trẻ đã reo mừng: "Hòa thượng của con đến kìa!". Thầy cũng vuốt ve nó mà nói: "Thằng trĩ của ta đây". Cỡi áo nó ra xem dưới nách thấy quả có ba lông trĩ. Bảy tuổi cha mẹ cho xuất gia, vì dưới nách có lông chim nên đặt pháp hiệu là Đàm Dực, Đàm Dực chuyên tụng Pháp Hoa về sau cảm Đức Phổ Hiền Bồ Tát thị hiện. (Rút trong Bộ Thông Tải)
Trong Kinh có câu: "A Dật Đa! Nếu có người vì Kinh Pháp Hoa này mà đến chốn Tăng phường, hoặc ngồi hoặc đứng, nghe Kinh tin nhận trong khoảng giây lát, nhờ công đức đó, sau khi bỏ thân hiện tại, sanh ra đặng giàu sang hoặc ở cung trời… (*)"
Xem ba chuyện, bồ câu cùng chim trĩ ở trên, loài cầm nghe Kinh nhờ công đức đó mà sớm chuyển thân chim thành thân người toàn vẹn, sanh trong những gia đình phong phú tử tế cả. Chẳng những thế mà cả ba đều biết túc mạng, nhất là ông Đàm Dực mới đó là chim trĩ, mà chỉ hơn khoảng mười năm sau đã nghiễm nhiên thành một vị cao Tăng.
Loài chim còn được như thế, huống chi là loài người, Kinh nói: "Giây lát nghe Kinh, người ấy sẽ ở cung Trời" rõ là chơn thiệt.
Công đức nghe Kinh Pháp Hoa nào có thể nghĩ bàn. Giống Vô thượng Chánh giác một phen gieo vào tâm điền. Sớm muộn quyết định thành Phật, đâu chỉ những hưởng phước ở thế gian mà thôi ư?
Nghe còn thế, huống là tự mình thọ trì, biên chép. Người mà không kết duyên với Kinh Pháp Hoa, thiệt là tự phụ bạc lấy mình vậy.
KINH CỨU TOÀN THÀNH
Triều Tấn, đất Binh Nguyên có ông Lưu Đô, làng của ông ở, có hơn một nghìn nóc nhà đều phụng Phật pháp, thường cúng dường Tăng Ni. Gặp lúc xứ Bắc Lỗ có nhiều người trốn vào ở trong thành ông Lưu. Chúa xứ Bắc Lỗ giận lắm, sắp sửa giết hết cả thành. Được tin dữ ấy, cả thành già trẻ đều kinh sợ, ông Lưu khuyên người trong thành kẻ thời tụng Kinh Phổ Môn, người thời niệm Quán Thế Âm, cả thành đều y theo lời ông Lưu. Vài ngày sau, trong điện chúa Lỗ, bỗng có một vật từ trên không rơi xuống sân chầu chạy quanh cột điện rồi dừng lại, xem ra là quyển Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm. Chúa Lỗ thấy điềm vậy vừa mừng vừa cảm động bèn tha cho cả thành. (Rút trong Pháp Uyển Châu Lâm)