Showing posts with label Kinh Pháp Hoa. Show all posts
Showing posts with label Kinh Pháp Hoa. Show all posts

Nghi Thức Trì Tụng

BÀI TÁN LƯ HƯƠNG
Lò hương vừa nhen nhúm. Pháp giới đã được xông. Các Phật trong hải hội đều xa hay. Theo chỗ kết mây lành. Lòng thành mới ân cần. Các Phật hiện toàn thân. Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma ha tát (3 lần)

CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI
Án Lam (7 lần) (Trì chú này thì thân tâm, cảnh vật đều thanh tịnh)

CHƠN NGÔN TỊNH KHẨU NGHIỆP
Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị ta bà ha (3 lần) (Trì chú này thì hơi miệng trong sạch)

CHƠN NGÔN TỊNH BA NGHIỆP
Án ta phạ, bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám (3 lần) (Trì chú này thì thân, miệng, lòng đều trong sạch)

CHƠN NGÔN PHỔ CÚNG DƯỜNG
Án nga nga nẳng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hồng (3 lần) (Trì chú này thời hoa hương cùng tiếng tụng niệm sẽ khắp cúng dường cả mười phương)

BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN
Nam mô Thập phương Thường trụ Tam Bảo (3 lần). Cúi lạy đấng Tam giới Tôn. Quy mạng cùng mười phương Phật. Con nay phát nguyện rộng. Thọ trì Kinh Pháp Hoa. Trên đền bốn ơn nặng. Dưới cứu khổ tam đồ (súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục). Nếu có kẻ thấy nghe. Đều phát lòng Bồ đề. Hết một báo thân này. Sanh qua cõi Cực Lạc. Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần).

BÀI KỆ KHAI KINH
Pháp vi diệu rất sâu Vô thượng. Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp. Con nay thấy nghe được thọ trì. Nguyện hiểu nghĩa chơn thật của Như Lai.

BÀI KHEN NGỢI KINH
Hơn sáu muôn lời, thành bảy cuốn. Rộng chứa đựng vô biên nghĩa mầu. Trong cổ nước cam lồ rịn nhuần. Trong miệng chất đề hồ nhỏ mát. Bên răng ngọc trắng tuôn Xá lợi. Trên lưỡi sen hồng phóng hào quang. Dầu cho tạo tội hơn núi cả. Chẳng nhọc Diệu pháp vài ba hàng. Nam mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)








Kinh Pháp Hoa

Nghi Thức Sám Hối

NGHI THỨC SÁM HỐI TRƯỚC KHI TỤNG KINH
(Dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh mà tụng Kinh, thời phước đức vô lượng, nên trước khi tụng Kinh cần phải sám hối, sám hối tức là làm cho ba nghiệp thanh tịnh).
Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật (1 lạy)
Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp (1 lạy)
Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

(Quỳ, tay cầm hương cúng dường phát nguyện)
Nguyện mây hương mầu này. Khắp cùng mười phương cõi. Cúng dường tất cả Phật. Tôn pháp, các Bồ Tát. Vô biên chúng Thanh Văn. Và cả thảy Thánh Hiền. Duyên khởi đài sáng chói. Trùm đến vô biên cõi. Khắp xông các chúng sanh. Đều phát lòng Bồ đề. Xa lìa những nghiệp vọng. Trọn nên đạo Vô thượng. (Cắm hương vào lư rồi lạy 1 lạy)

(Đứng chắp tay xướng)
Sắc thân Như Lai đẹp. Trong đời không ai bằng. Không sánh, chẳng nghĩ bàn. Nên nay con đảnh lễ. Sắc thân Phật vô tận. Trí huệ Phật cũng thế. Tất cả pháp thường trú. Cho nên con về nương. Sức trí lớn nguyện lớn. Khắp độ chúng quần sanh. Khiến bỏ thân nóng khổ. Sanh kia nước mát vui. Con nay sạch ba nghiệp. Quy y và lễ tán. Nguyện cùng các chúng sanh. Đồng sanh nước An Lạc. Án phạ nhựt ra vật (7 lần)
Chí tâm đảnh lễ. Thường Tịch Quang Tịnh độ. A Di Đà Như Lai. Pháp thân mầu thanh tịnh. Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Thật Báo Trang Nghiêm độ. A Di Đà Như Lai. Thân tướng hải vi trần. Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Phương Tiện Thánh Cư độ. A Di Đà Như Lai. Thân trang nghiêm giải thoát. Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Cõi An Lạc phương Tây. A Di Đà Như Lai. Thân căn giới Đại thừa. Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Cõi An Lạc phương Tây. A Di Đà Như Lai. Thân hóa đến mười phương. Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Cõi An Lạc phương Tây. Giáo hạnh lý ba Kinh. Tột nói bày y chánh. Khắp pháp giới Tôn Pháp (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Cõi An Lạc phương Tây. Quán Thế Âm Bồ Tát. Thân tử kim muôn ức. Khắp pháp giới Bồ Tát (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Cõi An Lạc phương Tây. Đại Thế Chí Bồ Tát. Thân trí sáng vô biên. Khắp pháp giới Bồ Tát (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ. Cõi An Lạc phương Tây. Thanh tịnh đại hải chúng. Thân hai nghiêm: Phước, Trí. Khắp pháp giới Thánh chúng (1 lạy)

(Đứng chắp tay nguyện)
"Con nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng sanh trong pháp giới, đều nguyện dứt trừ ba chướng(1) nên quy mạng(2) sám hối(3)"

(Lạy 1 lạy, quỳ chắp tay sám hối)
Chí tâm sám hối:
Đệ tử… và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm, lại do sáu căn ba nghiệp(4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián(5) và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên nói không thể hết. Mười phương các Đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chiếu soi tất cả. Lý mầu thường trụ đầy dẫy hư không.

Con từ vô thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng hay, chẳng biết, vì nhơn duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ(6), trăm nghìn muốn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi. Kinh rằng: "Đức Tỳ Lô Giá Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường Tịch Quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật pháp, mà con không rõ lại theo dòng vô minh. Vì thế trong trí Bồ đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ, nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các Đức Phật và A Di Đà Thế Tôn mà phát lồ(7) sám hối, làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô thỉ, hoặc hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.


Đệ tử sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh độ, khắp với chúng sanh, đồng sanh về nước An Dưỡng.

Nguyện Đức A Di Đà Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền tăng tấn, chẳng mất nhơn duyên Tịnh độ, đến giờ lâm chung, thân an lành, chánh niệm vững vàng, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy Đức A Di Đà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ Tát, rộng độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Đệ tử sám hối phát nguyện rồi quy mạng đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới, Đại từ Đại bi, A Di Đà Như Lai, biến pháp giới Tam Bảo. (1 lạy)

THÍCH NGHĨA
(1) Ba chướng: phiền não, nghiệp nhơn, quả báo. Ba món đều hay làm chướng ngại đường giải thoát nên gọi: "ba món chướng"
(2) Quy mạng: đem thân mạng về nương tựa, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng, chính là nghĩa của hai chữ "Nam Mô"
(3) Sám hối: nói đủ là sám ma, hối quá. Sám ma là tiếng Phạn, nghĩa là "hối quá" tức là ăn năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau
(4) Sáu căn, ba nghiệp: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ý sáu căn và ba nghiệp thân khẩu ý.
(5) Tội vô gián: giết cha, giết mẹ, giết Thánh nhơ, ác tâm làm thân Phật ra máu, phá hòa hiệp Tăng, gọi là năm tội nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục Vô gián nên gọi là tội vô gián ngục. Vô gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.
(6) Các đường dữ: A tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.
(7) Phát lồ: bày lộ tội lỗi ra trước Chúng Nhơn không chút giấu che thời gọi là phát lồ, trái với phú tàng (che giấu). Có phát lồ thời tội mới tiêu, như bịnh cảm mà đặng phát hạn (ra mồ hôi)

Phẩm Tựa Thứ Nhất

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA(1) - PHẨM TỰA THỨ NHẤT
Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập Hán Dịch. Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Việt Dịch

1. Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ Đức Phật(2) ở trong núi Kỳ Xà Quật, nơi thành Vương Xá cùng chúng đại tỳ kheo một vạn hai ngàn người câu hội. Các vị đó đều là bậc A La Hán, các lậu(3) đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong(4) dứt sự ràng buộc trong các cõi(5) tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A Nhã Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Dà Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Chiên Diên, A Nậu Lâu Đà, Kiếp Tân Na, Kiều Phạm Ba Đề, Ly Bà Đa, Tất Lăng Già Bà Ta Bạc Câu La, Ma Ha Câu Hy La, Nan Đà, Tôn Đà La Nan Đà, Phú Lâu Na, Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, A Nan, La Hầu La v.v.. đó là những vị đại A La Hán hàng tri thức của chúng.

Lại có bậc hữu học và vô học(6) hai ngàn người.

Bà tỳ kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề cùng với quyến thuộc sáu ngàn người câu hội. Mẹ của La Hầu La là bà tỳ kheo ni Gia Du Đà La cùng với quyến thuộc câu hội.

2. Bậc đại Bồ Tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác(7), đều chứng được pháp Đà la ni(8) nhạo thuyết biện tài(9) chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm nghìn chư Phật, ở các nơi Đức Phật trồng các cội công đức, thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí tuệ của Phật thông đạt đại trí đến nơi bờ kia(10), danh đồn khắp vô lượng thế giới có thể độ vô số trăm ngàn chúng sanh.

3. Tên của các vị đó là: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Chí Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Bửu Chưởng Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dõng Thí Bồ Tát, Bửu Nguyệt Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Mãn Nguyệt Bồ Tát, Đại Lực Bồ Tát, Vô Lượng Lực Bồ Tát, Việt Tam Giới Bồ Tát, Bạt Đà Bà La Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Bửu Tích Bồ Tát, Đạo Sư Bồ Tát v.v... Các vị đại Bồ Tát như thế tám vạn người câu hội. Lúc bấy giờ, Thích Đề Hoàn Nhơn(11) cùng quyến thuộc hai vạn vị thiên tử câu hội. Lại có Minh Nguyệt thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bửu Quang thiên tử, bốn vị đại Thiên Vương cùng với quyến thuộc một vạn thiên tử câu hội.

Tự Tại thiên tử, Đại Tự Tại thiên tử cùng với quyến thuộc ba vạn thiên tử câu hội.

Chủ cõi Ta Bà: Phạm Thiên Vương, Thi Khí Đại Phạm, Quang Minh Đại Phạm v.v...cùng với quyến thuộc một vạn hai ngàn vị thiên tử câu hội.

Có tám vị Long vương: Nan Đà Long vương, Bạt Nan Đà Long vương, Sa Dà La Long vương, Hòa Tu Cát Long vương, Đức Xoa Ca Long vương, A Na Bà Đạt Đa Long vương, Ma Na Tư Long vương, Ưu Bát La Long vương v.v... đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị Khẩn Na La vương, Pháp Khẩn Na La vương, Diệu Pháp Khẩn Na La vương, Đại Pháp Khẩn Na La vương, Trì Pháp Khẩn Na La vương đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị Càn Thát Bà vương: Nhạc Càn Thát Bà vương, Nhạc Âm Càn Thát Bà vương, Mỹ Càn Thát Bà vương, Mỹ Âm Càn Thát Bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị A Tu La vương: Bà Trĩ A Tu La vương, Dà La Khiên Đà A Tu La vương, Tỳ Ma Chất Đa La A Tu La vương, La Hầu A Tu La vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị Ca Lâu La vương: Đại Oai Đức Ca Lâu La vương, Đại Thân Ca Lâu La vương, Đại Mãn Ca Lâu La vương, Như Ý Ca Lâu La vương, đều cùng bao nhiêu quyến thuộc câu hội.

Vua A Xà Thế, con bà Vi Đề Hi, cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội.

Cả chúng đều lễ chân Phật, lui ngồi một phía.

4. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng dường cung kính ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ Tát mà nói kinh Đại thừa tên là: "Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm". Nói kinh này xong, Đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chánh định "Vô Lượng Nghĩa Xứ", thân và tâm của Phật đều không lay động.

Khi đó trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha Mạn thù sa, để rải trên Đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi Phật sáu điệu vang động(12).

Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn thát bà(13), A tu la(14), Ca lâu la(15), Khẩn na la(16), Ma hầu la dà(17), nhơn, phi nhơn và các vị tiểu vương cùng Chuyển luân thánh vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chắp tay một lòng nhìn Phật.

5. Bấy giờ, Đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A Tỳ, trên suốt thấu trời Sắc cứu cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh(18) ở các cõi kia.

Lại thấy các Đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các Đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, những người tu hành đắc đạo.

Lại thấy các vị đại Bồ Tát dùng các món nhân duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ Tát. Lại thấy các Đức Phật nhập Niết bàn, lại thấy sau khi các Đức Phật nhập Niết bàn, đem xá lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu.

6. Khi ấy, Ngài Di Lặc Bồ Tát nghĩ rằng: "Hôm nay Đức Thế Tôn hiện thần biến tướng, vì nhân duyên gì mà có điềm lành này. Nay Đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện hi hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?" Ngài lại nghĩ : "Ông Pháp Vương tử(19) Văn Thù Sư Lợi này đã từng gần gũi cúng dường vô lượng các Đức Phật đời quá khứ chắc đã thấy tướng hi hữu này, ta nay nên hỏi ông". Lúc đó, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ(20) và các trời, rồng, quỉ, thần v.v.. đều nghĩ rằng: "Tướng thần thông sáng chói của Đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai?"

7. Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ Tát muốn giải quyết chỗ nghi của mình, Ngài lại xét tâm niệm của bốn chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và của cả chúng hội trời, rồng, quỉ, thần v.v.. mà hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng: Vì nhân duyên gì mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các Đức Phật?

8. Khi đó, Ngài Di Lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng:

Ngài Văn Thù Sư Lợi! Đức Đạo Sư cớ chi. Lông trắng giữa chặn mày. Phóng ánh sáng khắp soi? Trời mưa hoa Mạn đà. Cùng hoa Mạn thù Sa. Gió thơm mùi chiên đàn. Vui đẹp lòng đại chúng. Vì nhân duyên như vậy. Cõi đất đều nghiêm tịnh. Mà trong thế giới này. Sáu điệu vang động lên. Bấy giờ bốn bộ chúng. Thảy đều rất vui mừng. Thân cùng ý thơ thới. Được việc chưa từng có.

9. Ánh sáng giữa chặn mày. Soi suốt thẳng phương Đông. Một muôn tám nghìn cõi. Đều ánh như sắc vàng. Từ địa ngục A tỳ. Trên đến trời Hữu Đảnh. Trong các thế giới đó. Cả sáu đạo chúng sanh. Sống chết của kia đến. Nghiệp duyên lành cùng dữ. Thọ báo có tốt xấu. Tại đây đều thấy rõ.

10. Lại thấy các Đức Phật. Đấng Thánh Chúa sư tử. Diễn nói các kinh điển. Nhiệm mầu bậc thứ nhất. Tiếng của Ngài thanh tịnh. Giọng nói ra êm dịu. Dạy bảo các Bồ Tát. Vô số ức muôn người. Tiếng Phạm âm thâm diệu. Khiến người đều ưa nghe. Các Phật ở cõi mình. Mà giảng nói chánh pháp. Dùng nhiều món nhân duyên. Cùng vô lượng tỉ dụ. Để soi rõ Phật Pháp. Mà khai ngộ chúng sanh. Nếu có người bị khổ. Nhàm lìa già, bệnh, chết. Phật vì nói Niết bàn. Để dứt các ngằn khổ. Nếu là người có phước. Đã từng cúng dường Phật. Chí cầu pháp thù thắng. Vì nói hạnh Duyên giác. Nếu lại có Phật tử. Tu tập các công hạnh. Để cầu tuệ vô thượng. Phật vì nói tịnh đạo.

11. Ngài Văn Thù Sư Lợi! Tôi ở tại nơi đây. Thấy nghe dường ấy đó. Và nghìn ức việc khác. Thấy rất nhiều như thế. Nay sẽ lược nói ra:

12. Tôi thấy ở cõi kia. Có hằng sa Bồ Tát. Dùng các món nhân duyên. Mà cầu chứng Phật đạo. Hoặc có vị bố thí. Vàng, bạc, ngọc, san hô. Chơn châu, ngọc như ý. Ngọc xa cừ mã não. Kim cương các trân bửu. Cùng tôi tớ, xe cộ. Kiệu, cán chưng châu báu. Vui vẻ đem bố thí. Hồi hướng về Phật đạo. Nguyện được chứng thừa ấy. Bậc nhất của ba cõi. Các Phật hằng khen ngợi. Hoặc có vị Bồ Tát. Xe tứ mã xe báu. Bao lơn che tàn đẹp. Trau tria dùng bố thí. Lại thấy có Bồ Tát. Bố thí cả vợ con. Thân thịt cùng tay chân. Để cầu vô thượng đạo. Lại thấy có Bồ Tát. Đầu, mắt và thân thể. Đều ưa vui thí cho. Để cầu trí tuệ Phật.

13. Ngài Văn Thù Sư Lợi! Ta thấy các Quốc vương. Qua đến chỗ của Phật. Thưa hỏi đạo vô thượng. Bèn bỏ nước vui vẻ. Cung điện cả thần thiếp. Cạo sạch râu lẫn tóc. Mà mặc y pháp phục. Hoặc lại thấy Bồ Tát. Mà hiện làm Tỳ kheo. Một mình ở vắng vẻ. Ưa vui tụng kinh điển. Cũng thấy có Bồ Tát. Dõng mãnh và tinh tấn. Vào ở nơi thâm sơn. Suy xét mối Phật đạo. Và thấy bậc ly dục. Thường ở chỗ không nhàn. Sâu tu các thiền định. Được năm món thần thông. Và thấy vị Bồ Tát. Chắp tay trụ thiền định. Dùng ngàn muôn bài kệ. Khen ngợi các Pháp vương. Lại thấy có Bồ Tát. Trí sâu chí bền chắc. Hay hỏi các Đức Phật. Nghe rồi đều thọ trì. Lại thấy hàng Phật tử. Định huệ trọn đầy đủ. Dùng vô lượng tỉ dụ. Vì chúng mà giảng pháp. Vui ưa nói các pháp. Dạy bảo các Bồ Tát. Phá dẹp chúng binh ma. Mà đánh rền trống pháp. Cùng thấy vị Bồ Tát. Vắng bặt yên lặng ngồi. Trời, rồng đều cung kính. Chẳng lấy đó làm mừng. Và thấy có Bồ Tát. Ở rừng phóng hào quang. Cứu khổ chốn địa ngục. Khiến đều vào Phật đạo. Lại thấy hàng Phật tử. Chưa từng có ngủ nghỉ. Kinh hành ở trong rừng. Siêng năng cầu Phật đạo. Cũng thấy đủ giới đức. Uy nghi không thiếu sót. Lòng sạch như bảo châu. Để cầu chứng Phật đạo. Và thấy hàng Phật tử. Trụ vào sức nhẫn nhục. Bị kẻ tăng thượng mạn. Mắng rủa cùng đánh đập. Thảy đều hay nhẫn được. Để cầu chứng Phật đạo. Lại thấy có Bồ Tát. Xa rời sự chơi cười. Và quyến thuộc ngu si. Ưa gần gũi người trí. Chuyên tâm trừ loạn động. Nhiếp niệm ở núi rừng. Trải ức nghìn muôn năm. Để cầu được Phật đạo.

14. Lại thấy vị Bồ Tát. Đồ ăn uống ngọt ngon. Cùng trăm món thuốc thang. Đem cúng Phật và Tăng. Áo tốt đồ thượng phục. Giá đáng đến nghìn muôn. Hoặc là vô giá y. Dùng nghìn muôn ức thứ. Nhà báu bằng Chiên đàn. Các giường nằm tốt đẹp. Để cúng Phật cùng Tăng. Rừng vườn rất thanh tịnh. Bông trái đều sum sê. Suối chảy cùng ao tắm. Cúng cho Phật và Tăng. Cúng thí như thế đó. Các đồ cúng tốt đẹp. Vui vẻ không hề nhàm. Để cầu đạo vô thượng.

15. Lại có vị Bồ Tát. Giảng nói pháp tịch diệt. Dùng các lời dạy dỗ. Dạy vô số chúng sanh. Hoặc thấy vị Bồ Tát. Quán sát các pháp tịnh. Đều không có hai tướng. Cũng như khoảng hư không. Lại thấy hàng Phật tử. Tâm không chỗ mê đắm. Dùng món diệu huệ này. Mà cầu đạo vô thượng.

16. Ngài Văn Thù Sư Lợi! Lại có vị Bồ Tát. Sau khi Phật diệt độ. Cúng dường Xá Lợi Phật. Lại thấy hàng Phật tử. Xây dựng các tháp miếu. Nhiều vô số hằng sa. Nghiêm sức khắp cõi nước. Bảo tháp rất cao đẹp. Đều năm nghìn do tuần. Bề ngang rộng xứng nhau. Đều hai nghìn do tuần. Trong mỗi mỗi tháp miếu. Đều có ngàn tràng phan. Màn châu xen thả xuống. Tiếng linh báu hòa reo. Các vị trời, rồng, thần. Người cùng với phi nhơn. Hương, hoa, cùng kỹ nhạc. Thường đem đến cúng dường. Ngài Văn Thù Sư Lợi! Các hàng Phật tử kia. Vì cúng dường xá lợi. Nên trang sức tháp miếu. Cõi quốc giới tự nhiên. Thù đặc rất tốt đẹp. Như cây Thiên thụ vương. Hoa kia đang xòe nở.

17. Phật phóng một luồng sáng. Ta cùng cả chúng hội. Thấy nơi cõi nước này. Các thứ rất tốt đẹp. Thần lực của chư Phật. Trí huệ đều hi hữu. Phóng một luồng tịnh quang. Soi khắp vô lượng cõi. Chúng ta thấy việc này. Được điều chưa từng có.

18. Xin Phật tử Văn Thù. Giải quyết lòng chúng nghi. Bốn chúng đều mong ngóng. Nhìn Ngài và nhìn ta. Đức Thế Tôn cớ chi. Phóng ánh quang minh này? Phật tử phải thời đáp. Quyết nghi cho chúng mừng. Có những lợi ích gì. Đức Phật phóng quang này? Khi Phật ngồi đạo tràng. Chứng được pháp thâm diệu. Vì muốn nói Pháp đó. Hay là sẽ thọ ký? Hiện bày các cõi Phật. Các báu sạch trang nghiêm. Cùng thấy các Đức Phật. Đây không phải cớ nhỏ. Ngài Văn Thù nên biết. Bốn chúng và Long, Thần. Nhìn xem xét Ngài đó. Mong sẽ nói những gì?

19. Lúc bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với Ngài Di Lặc Đại Bồ Tát cùng các vị Đại sĩ: "Các Thiện nam tử! Như chỗ tôi xét nghĩ thì nay Đức Phật Thế Tôn muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn.

20. Các thiện nam tử! Ta từng ở nơi các Đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay Đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật vì muốn cho chúng sanh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này. Các thiện nam tử! Như vô lượng vô biên a tăng kỳ(21) kiếp về trước. Bấy giờ có Đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự Trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, diễn nói chánh pháp. Ban đầu, giữa, rốt sau ba chặng đều lành, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ khéo mầu, thuần một không tạp, đầy đủ cả tướng phạm hạnh thanh bạch.

Phật, vì người cầu đạo Thanh văn, nói pháp Tứ đế(22) thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, cứu cánh Niết bàn. Vì hạng cầu quả Duyên giác, nói pháp Mười hai nhân duyên(23), vì hàng Bồ Tát nói sáu pháp Ba la mật(24) làm cho chứng được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác thành bậc nhứt thiết chủng trí(25).

Kế lại có Đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại có Đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như thế đến hai muôn Đức Phật đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại cùng đồng cùng một họ, họ Phả La Đọa.

Di Lặc nên biết! Đức Phật trước, Đức Phật sau đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đầy đủ mười hiệu, những pháp được nói ra, đầu, giữa, sau đều lành.

Đức Phật rốt sau cả, lúc chưa xuất gia có tám vị vương tử: Người thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bửu Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy Hưởng Ý, thứ tám tên Pháp Ý.

Tám vị vương tử đó có uy đức tự tại đều lãnh trị bốn châu thiên hạ(26). Nghe vua cha xuất gia chứng đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác đều bỏ ngôi vua cũng xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều làm bậc pháp sư, thuở trước đã từng ở chỗ nghìn muôn Đức Phật vun trồng các cội lành.

21. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên "Vô Lượng Nghĩa Xứ" là pháp giáo hoá Bồ Tát được chư Phật hộ niệm. Nói kinh đó rồi, Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập vào cảnh chánh định "Vô Lượng Nghĩa Xứ", thân và tâm chẳng động.

22. Khi ấy trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa Mạn thù sa cùng hoa Ma ha Mạn thù sa để rải trên Đức Phật và hàng đại chúng. Khắp cõi nước Phật sáu điệu vang động. Lúc đó trong hội, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn cùng các vị tiểu vương, các vị Chuyển luân thánh vương v.v... các đại chúng đó được điều chưa từng có, mừng rỡ chắp tay một lòng nhìn Phật.

23. Bấy giờ, Đức Như Lai từ tướng lông trắng chặn giữa chân mày phóng ra luồng ánh sáng soi khắp cùng cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương đông, như nay đương thấy ở cõi Phật đây.

Di Lặc nên biết! Khi đó trong hội, có hai mươi ức Bồ Tát ưa muốn nghe pháp, các vị Bồ Tát ấy thấy ánh sáng chiếu khắp các cõi Phật được điều chưa từng có, đều muốn biết vì duyên cớ gì mà phóng ánh sáng này.

Khi ấy, có vị Bồ Tát hiệu Diệu Quang có tám trăm người đệ tử.

24. Bấy giờ, Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ trong chánh định mà dậy, vì Diệu Quang Bồ Tát nói kinh Đại thừa tên "Diệu Pháp Liên Hoa" là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm, trải qua sáu mươi tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi.

25. Lúc ấy trong hội, người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp thân tâm đều không lay động, nghe Đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn. Bấy giờ trong chúng không có một người nào hoặc là thân hoặc là tâm mà sanh lười mỏi.

26. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói kinh đó rồi, liền ở trong chúng Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn, và Trời, Người, A tu la mà tuyên rằng : "Hôm nay vào nửa đêm, Như Lai sẽ nhập Vô dư Niết bàn".

Khi đó có vị Bồ Tát, tên Đức Tạng Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liền thọ ký(27) cho, bảo các Tỳ kheo rằng: "Ông Đức Tạng Bồ Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Tịnh Thân Như Lai Ứng cúng, chánh đẳng chánh giác".

Đức Phật thọ ký xong, vào nửa đêm bèn nhập Vô dư Niết bàn.

27. Sau khi Đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ Tát trì kinh "Diệu Pháp Liên Hoa" trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói.

28. Tám người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều học với Ngài Diệu Quang, Ngài Diệu Quang dạy bảo cho đều vững bền ở nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Các vị Vương tử đó cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức Đức Phật đều thành Phật đạo. Vị thành Phật rốt sau hết, hiệu là Nhiên Đăng.

29. Trong hàng tám trăm người đệ tử có một người tên: Cầu Danh, người này tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất, nên gọi là Cầu Danh. Người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm nghìn muôn ức Đức Phật mà cúng dường cung kính tôn trọng khen ngợi.

30. Di Lặc nên biết! Lúc đó Diệu Quang Bồ Tát đâu phải người nào lạ, chính là ta đấy. Còn Cầu Danh Bồ Tát là Ngài đấy.
Nay thấy điềm lành này, cùng với xưa không khác, cho nên ta xét nghĩ hôm nay Đức Phật Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên: "Diệu Pháp Liên Hoa" là pháp giáo hoá Bồ Tát được chư Phật hộ niệm.

Bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở trong đại chúng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

31. Ta nhớ thuở quá khứ. Vô lượng vô số kiếp. Có Phật Nhân Trung Tôn. Hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Đức Thế Tôn nói pháp. Độ vô lượng chúng sanh. Vô số ức Bồ Tát. Khiến vào trí huệ Phật.

32. Khi Phật chưa xuất gia. Có sanh tám vương tử. Thấy Đại Thánh xuất gia. Cũng theo tu phạm hạnh.

33. Phật nói kinh Đại thừa. Tên là "Vô Lượng Nghĩa". Ở trong hàng đại chúng. Mà vì rộng tỏ bày. Phật nói kinh ấy rồi. Liền ở trong pháp tòa. Xếp bằng nhập chánh định. Tên "Vô Lượng Nghĩa Xứ". Trời rưới hoa Mạn đà. Trống trời tự nhiên vang. Các trời, rồng, quỉ, thần. Cúng dường đấng Nhân Tôn. Tất cả các cõi Phật. Tức thời vang động lớn.

34. Phật phóng sáng giữa mày. Hiện các việc hi hữu. Ánh sáng chiếu phương Đông. Muôn tám nghìn cõi Phật. Bày sanh tử nghiệp báo. Của tất cả chúng sanh. Lại thấy các cõi Phật. Dùng các báu trang nghiêm. Màu lưu ly pha lê. Đây bởi Phật quang soi.

35. Lại thấy những trời, người. Rồng, thần, chúng Dạ xoa. Càn thát, Khẩn na la. Đều cúng dường Phật mình.

36. Lại thấy các Như Lai. Tự nhiên thành Phật đạo. Màu thân như núi vàng. Đoan nghiêm rất đẹp mầu. Như trong lưu ly sạch. Hiện ra tượng chơn kim. Thế Tôn trong đại chúng. Dạy nói nghĩa thâm diệu.

37. Mỗi mỗi các cõi Phật. Chúng Thanh văn vô số. Nhân Phật quang soi sáng. Đều thấy đại chúng kia. Hoặc có các Tỳ kheo. Ở tại trong núi rừng. Tinh tấn giữ tịnh giới. Dường như gìn châu sáng.

38. Lại thấy các Bồ Tát. Bố thí nhẫn nhục thảy. Số đông như hằng sa(28). Đây bởi sáng Phật soi. Lại thấy hàng Bồ Tát. Sâu vào các thiền định. Thân tâm lặng chẳng động. Để cầu đạo vô thượng. Lại thấy các Bồ Tát. Rõ tướng pháp tịch diệt. Đều ở tại nước mình. Nói pháp cầu Phật đạo.

39. Bấy giờ bốn bộ chúng. Thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng. Hiện sức thần thông lớn. Tâm kia đều vui mừng. Mỗi người tự hỏi nhau. Việc này nhân duyên gì?

40. Đấng của trời người thờ. Vừa từ chánh định dậy. Khen Diệu Quang Bồ Tát. Ông là mắt của đời. Mọi người đều tin về. Hay vâng giữ tạng pháp. Như pháp của ta nói. Chỉ ông chứng biết được. Đức Phật đã ngợi khen. Cho Diệu Quang vui mừng. Liền nói kinh Pháp Hoa. Trải sáu mươi tiểu kiếp. Chẳng rời chỗ ngồi ấy. Ngài Diệu Quang Pháp sư. Trọn đều hay thọ trì. Pháp thượng diệu của Phật.

41. Phật nói kinh Pháp Hoa. Cho chúng vui mừng rồi. Liền chính trong ngày đó. Bảo hàng chúng trời, người. Các pháp "nghĩa thật tướng". Đã vì các ông nói. Nay ta giữa đêm này. Sẽ vào cõi Niết bàn. Phải một lòng tinh tấn. Rời các sự buông lung. Các Phật rất khó gặp. Ức kiếp được một lần.

42. Các con của Phật thảy. Nghe Phật sắp nhập diệt. Thảy đều lòng buồn khổ. Sao Phật gấp Niết bàn? Đấng Thánh chúa Pháp vương. An ủi vô lượng chúng. Nếu lúc ta diệt độ. Các ông chớ lo sợ. Đức Tạng Bồ Tát đây. Tâm đã được thông thấu. Nơi vô lậu thiệt tướng. Kế đây sẽ thành Phật. Tên hiệu là Tịnh Thân. Cũng độ vô lượng chúng.

43. Đêm đó Phật diệt độ. Như củi hết, lửa tắt. Chia phân các xá lợi. Mà xây vô lượng tháp. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Số đông như hằng sa. Lại càng thêm tinh tấn. Để cầu đạo vô thượng.

44. Diệu Quang pháp sư ấy. Vâng giữ Phật pháp tạng. Trong tám mươi tiểu kiếp. Rộng nói kinh Pháp Hoa. Tám vị vương tử đó. Được Diệu Quang dạy bảo. Vững bền đạo vô thượng. Sẽ thấy vô số Phật. Cúng dường các Phật xong. Thuận theo tu đại đạo. Nối nhau đặng thành Phật. Chuyển thứ thọ ký nhau. Đấng Phật rốt sau cả. Hiệu là: Phật Nhiên Đăng. Đạo Sư(29) của thiên tiên. Độ thoát vô lượng chúng.

45. Diệu Quang Pháp sư đó. Có một người đệ tử. Tâm thường cưu biếng trễ. Tham ưa nơi danh lợi. Cầu danh lợi không nhàm. Thường đến nhà sang giàu. Rời bỏ việc tụng học. Bỏ quên không thông thuộc. Vì bởi nhân duyên ấy. Nên gọi là Cầu Danh. Cũng tu các nghiệp lành. Được thấy vô số Phật. Thuận tu theo đại đạo. Đủ sáu ba la mật. Nay gặp đấng Thích Ca. Sau đây sẽ thành Phật. Hiệu rằng: Phật Di Lặc. Rộng độ hàng chúng sanh. Số đông đến vô lượng.

46. Sau Phật kia diệt độ. Lười biếng đó là Ngài. Còn Diệu Quang Pháp sư. Nay thời chính là ta. Ta thấy Phật Đăng Minh. Điềm sáng trước như thế. Cho nên biết rằng nay. Phật muốn nói "Pháp Hoa". Tướng nay như điềm xưa. Là phương tiện của Phật. Nay Phật phóng ánh sáng. Giúp bày nghĩa thiệt tướng. Các người nay nên biết. Chắp tay một lòng chờ. Phật sẽ rưới nước pháp. Đầy đủ người cầu đạo. Các người cầu ba thừa(30). Nếu có chỗ nghi hối. Phật sẽ dứt trừ cho. Khiến hết không còn thừa.


KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
QUYỂN THỨ NHẤT

Một sáng chiếu phương đông, thể diệu toàn bày, chẳng phải chỗ suy lường mà suy lường được, thầm hiểu ở trong lòng, phương tiện truyền bày một đạo nhả hương trời.

Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

Thế Tôn hiện điềm tốt, Di Lặc nghi tướng lành, Văn Thù vì chúng rộng phô bày: Phật xưa phóng hào quang. Ba phen mời đấng Pháp Vương vì nói hương Diệu Liên.

Nam Mô Quá Khứ Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật (3 lần)


THÍCH NGHĨA
(1) Kinh: Pháp thường, mười phương ba đời các Đức Phật đều nói như vậy. Nói đủ là "Khế Kinh" nghĩa là "pháp thường khế hiệp chân lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh". Diệu Pháp Liên Hoa: Pháp mầu khó nghĩ lường, thắng hơn tất cả pháp. Kinh pháp nầy là bật nhất trong kinh pháp khác của Phật nói, dụ như hoa sen, vì hoa sen sánh với hoa khác có 5 điều đặc biệt: 1. Có hoa là có gương: nhân quả đồng thời. 2. Mọc trong bùn lầy mà vẫn trong sạch thơm tho. 3. Cọng hoa từ gốc tách riêng nhưng không chung cành với lá. 4. Ong và bướm không bu đậu. 5. Không bị người dùng làm trang điểm (xưa đàn bà Ấn-Độ quen dùng hoa kết thành tràng để đeo đội v.v...)
(2) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
(3) Các điều vọng lầm hay làm lọt mất công đức lành.
(4) Tự mình đã được thoát khỏi khổ sinh tử luân hồi.
(5) Ba cõi: cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc.
(6) Từ quả A na hàm trở xuống chưa được giải thoát còn phải học tập nên gọi "hữu học".Quả A la hán đã được giải thoát, về trong Tiểu thừa pháp, thì không còn phải học nữa nên gọi "vô học".
(7) Quả chứng của Phật.
(8) Tồng trì: Gồm nhiếp các Pháp.
(9) Tài biện luận ưa giảng nói pháp.
(10) Chỗ rốt ráo, trọn vẹn, nên xong hoàn toàn.
(11) Tên của vị vua 33 nước trời Đao Lợi ở trên đỉnh núi Tu Di.
(12) Ba thứ tiếng vang dội và 3 thứ rung động của hình sắc.
(13) (16) Các loài thần hầu hạ cõi Đao Lợi.
(14) Thần phi thiên: có phước như trời mà đức kém hơn trời.
(15) Chim cánh vàng (kim sí điểu)
(17) Thần rắn.
(18) 1) Trời; 2) Người; 3) A tu la; 4) Thú; 5) Quỉ; 6) Địa ngục.
(19) Phật là vua pháp (Pháp vương). Bồ Tát cũng như con của Phật nên là: Pháp vương tử.
(20) Người thọ tam quy ngũ giới tu tại gia gần gũi hộ thờ Tam Bảo nên gọi cận sự, đàn ông là nam, đàn bà là nữ, ta quen gọi là cư sĩ.
(21) Vô số (một số lớn). Kiếp có: Tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Một tiểu kiếp có 16.798.000 năm. Một trung kiếp có 20 tiểu kiếp. Một đại kiếp có 4 trung kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không.
(22) 1) Khổ đế; 2) Tập đế; 3) Diệt đế; 4) Đạo đế.
(23) 1) Vô minh- 2) Hành- 3) Thức- 4) Danh sắc- 5) Lục nhập- 6) Xúc- 7) Thọ- 8) Ái- 9) Thủ- 10) Hữu- 11) Sanh- 12) Lão-tử. Mười hai món này làm nhân duyên lẫn nhau.
(24) Cũng gọi là 6 độ: 1) Bố thí độ, 2) Trì giới độ, 3) Nhẫn nhục độ, 4) Tinh tấn độ, 5) Thiền định độ, 6) Trí huệ độ.
(25) Trí của Phật.
(26) 1) Đông thắng thần châu, 2) Nam thiệm bộ châu (quả địa cầu), 3) Tây ngưu hóa châu, 4) Bắc câu lô châu.
(27) Thọ ký:Trao cho lời ghi chắc về sau, bao nhiêu năm cõi nào sẽ thành Phật hiệu là v.v...
(28) Sông Hằng một con sông lớn xứ Ấn Độ, trong sông và hai bờ có cát rất mịn, trong kinh thường dùng số cát ấy để chỉ một số đông nhiều.
(29) Ông thầy dắt dẫn.
(30) Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Phật thừa.

Phẩm Phương Tiện Thứ Hai

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA - PHẨM PHƯƠNG TIỆN(31) THỨ HAI
Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập Hán Dịch. Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Việt Dịch


1. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn từ chánh định an lành mà dậy, bảo Ngài Xá Lợi Phất: "Trí huệ của các Đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh văn cùng Tích chi Phật đều không biết được. Vì sao?


Phật đã từng gần gũi trăm nghìn muôn ức, vô số các Đức Phật, trọn tu vô lượng đạo pháp của các Đức Phật, dõng mãnh tinh tấn, danh tốt đồn khắp, trọn nên pháp rất sâu chưa từng có, theo thời nghi mà nói pháp ý thú khó hiểu.


Xá Lợi Phất! Từ ta thành Phật đến nay, các món nhân duyên, các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Đức Như Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và ba la mật.


Xá Lợi Phất! Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, đức vô lượng vô ngại lực, vô sở úy, thiền định, giải thoát tam muội, đều sâu vào không ngằn mé, trọn nên tất cả pháp chưa từng có.


Xá Lợi Phất! Như Lai hay các món phân biệt, khéo nói các pháp lời lẽ êm dịu vui đẹp lòng chúng.


Xá Lợi Phất! Tóm yếu mà nói đó, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, Đức Phật thảy đều trọn nên.


2. Thôi Xá Lợi Phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao? Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhất mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy.


3. Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng:


Đấng Thế Hùng khó lường. Các trời cùng người đời. Tất cả loài chúng sanh. Không ai hiểu được. Phật. Trí lực, vô sở úy. Giải thoát các tam muội. Các pháp khác của Phật. Không ai so lường được. Vốn từ vô số Phật. Đầy đủ tu các đạo. Pháp nhiệm mầu rất sâu. Khó thấy khó rõ được. Trong vô lượng ức kiếp. Tu các đạo đó rồi. Đạo tràng được chứng quả. Ta đều đã thấy biết. Quả báo lớn như vậy. Các món tính tướng nghĩa. Ta cùng mười phương Phật. Mới biết được việc đó.


4. Pháp đó không chỉ được. Vắng bặt tướng nói năng. Các loài chúng sinh khác. Không có ai hiểu được. Trừ các chúng Bồ Tát. Người sức tin bền chặt. Các hàng đệ tử Phật. Từng cúng dường các Phật. Tất cả lậu đã hết. Trụ thân rốt sau này. Các hạng người vậy thảy. Sức họ không kham được. Giả sử đầy thế gian. Đều như Xá Lợi Phất. Cùng suy chung so lường. Chẳng lường được Phật trí. Chính sử khắp mười phương. Đều như Xá Lợi Phất. Và các đệ tử khác. Cũng đầy mười phương cõi. Cùng suy chung so lường. Cũng lại chẳng biết được. Bậc Duyên giác trí lành. Vô lậu thân rốt sau. Cũng đầy mười phương cõi. Số đông như rừng tre. Hạng này chung một lòng. Trong vô lượng ức kiếp. Muốn xét Phật thật trí. Chẳng biết được chút phần. Bồ Tát mới phát tâm. Cúng dường vô số Phật. Rõ thấu các nghĩa thú. Lại hay khéo nói pháp. Như lúa, mè, tre, lau. Đông đầy mười phương cõi. Một lòng dùng trí mầu. Trải số kiếp hằng sa. Thảy đều chung suy lường. Chẳng biết được trí Phật. Hàng bất thối Bồ Tát. Số đông như hằng sa. Một lòng chung suy cầu. Cũng lại chẳng hiểu được.


5. Lại bảo Xá Lợi Phất. Pháp nhiệm mầu rất sâu. Vô lậu khó nghĩ bàn. Nay ta đã được đủ. Chỉ ta biết tướng đó. Mười phương Phật cũng vậy. Xá Lợi Phất phải biết. Lời Phật nói không khác. Với Pháp của Phật nói. Nên sinh sức tin chắc. Pháp của Phật lâu sau. Cần phải nói chân thật. Bảo các chúng Thanh văn. Cùng người cầu Duyên giác. Ta khiến cho thoát khổ. Đến chứng được Niết bàn. Phật dùng sức phương tiện. Dạy cho ba thừa giáo. Chúng sanh nơi nơi chấp. Dắt đó khiến ra khỏi.


6. Khi đó trong đại chúng có hàng Thanh văn lậu tận A la hán, Ngài A Nhã Kiều Trần Như v.v... một nghìn hai trăm người và các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam cùng cận sự nữ, hạng người phát tâm Thanh văn, Duyên giác đều nghĩ rằng: "Hôm nay Đức Phật cớ chi lại ân cần ngợi khen phương tiện mà nói thế này: "Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh văn cùng Duyên giác không thể đến được."


7. Đức Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng được pháp đó đến nơi Niết bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa đó về đâu? Lúc ấy, Ngài Xá Lợi Phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Nhân gì duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương tiện thứ nhất nhiệm mầu rất sâu khó hiểu của các Đức Phật? Con từ trước đến nay chưa từng nghe Phật nói điều đó, hôm nay bốn chúng thảy đều có lòng nghi. Cúi xin Đức Thế Tôn bày nói việc đó. Cớ gì mà Đức Thế Tôn ân cần khen ngợi pháp nhiệm mầu rất sâu khó hiểu? Khi đó Ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:


8. Đấng Huệ Nhật Đại thánh. Lâu mới nói pháp này. Tự nói pháp mình chứng. Lực, vô úy, tam muội. Thiền định, giải thoát thảy. Đều chẳng nghĩ bàn được. Pháp chứng nơi đạo tràng. Không ai hỏi đến được. Ý con khó lường được. Cũng không ai hay hỏi. Không hỏi mà tự nói. Khen ngợi đạo mình làm. Các Đức Phật chứng được. Trí huệ rất nhiệm mầu. Hàng vô lậu La hán. Cùng người cầu Niết bàn. Nay đều sa lưới nghi. Phật cớ chi nói thế? Hạng người cầu Duyên giác. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Các trời, rồng, quỉ, thần. Và Càn thát bà thảy. Ngó nhau mang lòng nghi. Nhìn trông đấng Túc Tôn. Việc đó là thế nào. Xin Phật vị dạy cho? Trong các chúng Thanh văn. Phật nói con hạng nhất. Nay con nơi trí mình. Nghi lầm không rõ được. Vì là pháp rốt ráo. Vì là đạo Phật làm. Con từ miệng Phật sanh. Chắp tay nhìn trông chờ. Xin ban tiếng nhiệm mầu. Liền vì nói như thực. Các trời, rồng, thần thảy. Số đông như hằng sa. Bồ Tát cầu thành Phật. Số nhiều có tám muôn. Lại những muôn ức nước. Vua Chuyển Luân vương đến. Đều lòng kính chắp tay. Muốn nghe đạo đầy đủ.


9. Khi đó Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi ngờ."


10. Ngài Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Vì sao? Trong hội đây có vô số trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ chúng sinh đã từng gặp các Đức Phật, các căn mạnh lẹ, trí huệ sáng suốt, được nghe Phật dạy chắc có thể kính tin".


Lúc ấy, Ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:


Đấng Pháp Vương vô thượng. Xin nói chuyện đừng lo. Vô lượng chúng hội đây. Có người hay kính tin.


11. Đức Phật lại ngăn Xá Lợi Phất : "Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, A tu la đều sẽ nghi sợ, Tỳ kheo tăng thượng mạn sẽ phải sa vào hầm lớn."


Khi đó Đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:


Thôi thôi! Chẳng nên nói. Pháp ta diệu khó nghĩ. Những kẻ tăng thượng mạn. Nghe ắt không kính tin.


12. Lúc ấy Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn! Cúi xin Phật nói, cúi xin Phật nói. Nay trong hội này hạng người sánh bằng con có trăm nghìn muôn ức. Đời đời đã từng theo Phật học hỏi, những người như thế chắc hay kính tin lâu dài an ổn nhiều điều lợi ích.


Khi đó Ngài Xá Lợi Phất, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:


Đấng vô thượng Lưỡng túc. Xin nói pháp đệ nhất. Con là trưởng tử Phật. Xin thương phân biệt nói. Vô lượng chúng hội đây. Hay kính tin pháp này. Đời đời Phật đã từng. Giáo hóa chúng như thế. Đều một lòng chắp tay. Muốn nghe lãnh lời Phật. Chúng con nghìn hai trăm. Cùng hạng cầu Phật nọ. Nguyện Phật vì chúng này. Cúi xin phân biệt nói. Chúng đây nghe pháp ấy. Thời sanh lòng vui mừng.


13. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Ngài Xá Lợi Phất: "Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu được chẳng nói. Ông nay lóng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải nói."


14. Khi Đức Phật nói lời đó, trong hội có các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, cả thẩy năm nghìn người, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui về. Vì sao? Vì bọn người này gốc tội sâu nặng cùng tăng thượng mạng, chưa được mà nói đã được, chưa chứng mà đã cho chứng, có lỗi dường ấy, cho nên không ở lại. Đức Thế Tôn yên lặng không ngăn cản.


15. Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: "Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hạt chắc. Xá Lợi Phất! Những gã tăng thượng mạn như vậy lui về cũng là tốt. Ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói."


16. Ngài Xá Lợi Phất bạch rằng: "Vâng thưa Thế Tôn con nguyện ưa muốn nghe". Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: "Pháp mầu như thế, các Đức Phật Như Lai đến khi đúng thời mới nói, đó như hoa linh thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá Lợi Phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.


17. Xá Lợi Phất! Các Đức Phật theo thời nghi nói pháp y thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp.


Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các Đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các Đức Phật Thế Tôn, chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời.


Xá Lợi Phất! Sao nói rằng các Đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra đời? Các Đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.


Xá Lợi Phất! Đó là các Đức Phật do vì một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời".


18. Đức Phật bảo Xá Lợi Phất: "Các Đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ Tát, những điều làm ra thường vì một việc: chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ thôi"


Xá Lợi Phất! Đức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.


19. Xá Lợi Phất! Pháp của tất cả các Đức Phật ở mười phương cũng như thế.


Xá Lợi Phất! Thuở quá khứ các Đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng "nhứt thiết chủng trí."


Xá Lợi Phất! Thuở vị lai, các Đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa nên các chúng sanh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng "nhứt thiết chủng trí".


Xá Lợi Phất! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các Đức Phật Thế Tôn nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sanh. Các Đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sanh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng "nhứt thiết chủng trí".


Xá Lợi Phất! Các Đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ Tát, vì muốn đem tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sanh, vì muốn đem tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sanh chứng vào tri kiến Phật vậy.


Xá Lợi Phất! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sanh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bản tánh kia dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.


Xá Lợi Phất! Như thế đều vì để chứng được một Phật thừa "nhứt thiết chủng trí."


20. Xá Lợi Phất! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba!


Xá Lợi Phất! Các Đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: kiếp trược, phiền não trược, chúng sinh trược, kiến trược, mệnh trược. Như thế, Xá Lợi Phất, lúc kiếp loạn trược chúng sinh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các Đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.


21. Xá Lợi Phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A la hán cùng Duyên giác mà không nghe, không biết việc của các Đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ Tát, người này chẳng phải là đệ tử Phật, chẳng phải A la hán, chẳng phải Duyên giác.


Lại nữa, Xá Lợi Phất! Các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đó tự cho mình đã được A la hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn. Vì sao? Nếu có Tỳ kheo thực chứng quả A la hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì đọc tụng hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp Đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ.


Xá Lợi Phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các Đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.


Khi ấy Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:


22. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Mang lòng tăng thượng mạng. Cận sự nam ngã mạn. Cận sự nữ chẳng tin. Hàng bốn chúng như thế. Số kia có năm nghìn. Chẳng tự thấy lỗi mình. Nơi giới có thiếu sót. Tiếc giữ tội quấy mình. Trí nhỏ đó đã ra. Bọn cám tấm trong chúng. Oai đức Phật phải đi. Gã đó kém phước đức. Chẳng kham lãnh pháp này. Chúng nay không cành lá. Chỉ có những hột chắc.


23. Xá Lợi Phất khéo nghe! Pháp của các Phật được. Vô lượng sức phương tiện. Mà vì chúng sanh nói. Tâm của chúng sanh nghĩ. Các món đạo ra làm. Bao nhiêu những tánh dục. Nghiệp lành dữ đời trước. Phật biết hết thế rồi. Dùng các duyên thí dụ. Lời lẽ sức phương tiện. Khiến tất cả vui mừng. Hoặc là nói Thế kinh. Cô khởi cùng Bổn sự. Bổn sanh, Vị tằng hữu. Cũng nói những nhân duyên. Thí dụ và Trùng tụng. Luận nghị cộng chín kinh. Căn độn ưa pháp nhỏ. Tham chấp nơi sanh tử. Nơi vô lượng Đức Phật. Chẳng tu đạo sâu mầu. Bị các khổ não loạn. Vì đó nói Niết bàn. Ta bày phương tiện đó. Khiến đều vào huệ Phật. Chưa từng nói các ông. Sẽ được thành Phật đạo. Sở dĩ chưa từng nói. Vì giờ nói chưa đến. Nay chính là đến giờ. Quyết định nói Đại thừa.


24. Chín bộ pháp của ta. Thuận theo chúng sanh nói. Vào Đại thừa làm gốc. Nên mới nói kinh này. Có Phật tử tâm tịnh. Êm dịu cũng căn lợi. Nơi vô lượng các Phật. Mà tu đạo sâu mầu. Vì hàng Phật tử này. Nói kinh Đại thừa đây. Ta ghi cho người đó. Đời sau thành Phật đạo. Bởi thâm tâm niệm Phật. Tu trì tịnh giới vậy. Hạng này nghe thành Phật. Rất mừng đầy khắp mình. Phật biết tâm của kia. Nên vì nói Đại thừa. Thanh văn hoặc Bồ Tát. Nghe ta nói pháp ra. Nhẫn đến một bài kệ. Đều thành Phật không nghi.


25. Trong cõi Phật mười phương. Chỉ có một thừa pháp. Không hai cũng không ba. Trừ Phật phương tiện nói. Chỉ dùng danh tự giả. Dẫn dắt các chúng sanh. Vì nói trí huệ Phật. Các Phật ra nơi đời. Chỉ một việc này thực. Hai thứ chẳng phải chơn. Trọn chẳng đem tiểu thừa. Mà tế độ chúng sanh. Phật tự trụ Đại thừa. Như pháp của mình được. Định, huệ, lực trang nghiêm. Dùng đây độ chúng sanh. Tự chứng đạo vô thượng. Pháp bình đẳng Đại thừa. Nếu dùng tiểu thừa độ. Nhẫn đến nơi một người. Thời ta đọa sân tham. Việc ấy tất không được. Nếu người tin về Phật. Như Lai chẳng dối gạt. Cũng không lòng tham ghen. Dứt ác trong các pháp. Nên Phật ở mười phương. Mà riêng không chỗ sợ. Ta dùng tướng trang nghiêm. Ánh sáng soi trong đời. Đấng vô lượng chúng trọng. Vì nói thực tướng ấn.


26. Xá Lợi Phất! nên biết. Ta vốn lập thệ nguyện. Muốn cho tất cả chúng. Bằng như ta không khác. Như ta xưa đã nguyện. Nay đã đầy đủ rồi. Độ tất cả chúng sanh. Đều khiến vào Phật đạo. Nếu ta gặp chúng sanh. Dùng Phật đạo dạy cả. Kẻ vô trí rối sai. Mê lầm không nhận lời. Ta rõ chúng sanh đó. Chưa từng tu cội lành. Chấp chặt nơi ngũ dục. Vì si ái sinh khổ. Bởi nhân duyên các dục. Sanh vào ba đường dữ. Xoay lăn trong sáu nẻo. Chịu đủ những khổ độc. Thân mọn thọ bào thai. Đời đời tăng trưởng luôn. Người đức mỏng ít phước. Các sự khổ bức ngặt. Vào rừng rậm tà kiến. Hoặc chấp có, chấp không. Nương gá các chấp này. Đầy đủ sáu mươi hai. Chấp chặt pháp hư vọng. Bền nhận không bỏ được. Ngã mạn tự khoe cao. Dua nịnh lòng không thực. Trong nghìn muôn ức kiếp. Chẳng nghe danh tự Phật. Cũng chẳng nghe chánh pháp. Người như thế khó độ.


27. Cho nên Xá Lợi Phất! Ta vì bày phương tiện. Nói các đạo dứt khổ. Chỉ cho đó Niết bàn. Ta dầu nói Niết bàn. Cũng chẳng phải thật diệt. Các pháp từ bổn lai. Tướng thường tự vắng lặng. Phật tử hành đạo rồi. Đời sau được thành Phật. Ta có sức phương tiện. Mở bày khắp ba thừa. Tất cả các Thế Tôn. Đều nói đạo nhất thừa. Nay trong đại chúng này. Đều nên trừ nghi lầm. Lời Phật nói không khác. Chỉ một, không hai thừa.


28. Vô số kiếp đã qua. Vô lượng Phật diệt độ. Trăm nghìn muôn ức Phật. Số nhiều không lường được. Các Thế Tôn như thế. Các món duyên thí dụ. Vô số ức phương tiện. Diễn nói các pháp tướng. Các Đức Thế Tôn đó. Đều nói pháp nhất thừa. Độ vô lượng chúng sanh. Khiến vào nơi Phật đạo. Lại các đại Thánh chúa. Biết tất cả thế gian. Trời người loài quần sanh. Thâm tâm chỗ ưa muốn. Bèn dùng phương tiện khác. Giúp bày nghĩa đệ nhất.


29. Nếu có loài chúng sanh. Gặp các Phật quá khứ. Hoặc nghe pháp bố thí. Hoặc trì giới nhẫn nhục. Tinh tấn, thiền, trí thảy. Các món tu phước huệ. Những người như thế đó. Đều đã thành Phật đạo. Sau các Phật diệt độ. Nếu người lòng lành dịu. Các chúng sanh như thế. Đều đã thành Phật đạo.


30. Các Phật diệt độ rồi. Người cúng dường xá lợi. Dựng muôn ức thứ tháp. Vàng, bạc và pha lê. Xa cừ cùng mã não. Ngọc mai khôi, lưu ly. Thanh tịnh rộng nghiêm sức. Trau giồi nơi các tháp. Hoặc có dựng miếu đá. Chiên đàn và trầm thủy. Gỗ mật cùng gỗ khác. Gạch ngói bùn đất thảy. Hoặc ở trong đồng trống. Chứa đất thành miếu Phật. Nhẫn đến đồng tử giỡn. Nhóm cát thành tháp Phật. Những hạng người như thế. Đều đã thành Phật đạo.


31. Nếu như người vì Phật. Xây dựng các hình tượng. Chạm trổ thành các tướng. Đều đã thành Phật đạo. Hoặc dùng bảy báu làm. Thau, đồng bạch, đồng đỏ. Chất nhôm cùng chì kẽm. Sắt, gỗ cùng với bùn. Hoặc dùng keo, sơn, vải. Nghiêm sức làm tượng Phật. Những người như thế đó. Đều đã thành Phật đạo. Vẽ vời làm tượng Phật. Trăm tướng phước trang nghiêm. Tự làm hoặc bảo người. Đều đã thành Phật đạo. Nhẫn đến đồng tử giỡn. Hoặc cỏ cây và bút. Hoặc lấy móng tay mình. Mà vẽ làm tượng Phật. Những hạng người như thế. Lần lần chứa công đức. Đầy đủ tâm đại bi. Đều đã thành Phật đạo. Chỉ dạy các Bồ Tát. Độ thoát vô lượng chúng.


32. Nếu người nơi tháp miếu. Tượng báu và tượng vẽ. Dùng hoa, hương, phan, lọng. Lồng kính mà cúng dường. Hoặc khiến người trổi nhạc. Đánh trống, thổi sừng ốc. Tiêu địch, cầm, không hầu. Tỳ bà, chụp chả đồng. Các tiếng hay như thế. Đem dùng cúng dường hết. Hoặc người lòng vui mừng. Ca ngâm khen Đức Phật. Nhẫn đến một tiếng nhỏ. Đều đã thành Phật đạo.


33. Nếu người lòng tán loạn. Nhẫn đến dùng một hoa. Cúng dường nơi tượng vẽ. Lần thấy các Đức Phật. Hoặc có người lễ lạy. Hoặc lại chỉ chắp tay. Nhẫn đến giơ một tay. Hoặc lại hơi cúi đầu. Dùng đây cúng dường tượng. Lần thấy vô lượng Phật. Tự thành đạo vô thượng. Rộng độ chúng vô số. Vào Vô dư Niết bàn. Như củi hết lửa tắt. Nếu người tâm tán loạn. Bước vào trong tháp chùa. Chỉ niệm Nam mô Phật. Đều đã thành Phật đạo. Nơi các Phật quá khứ. Tại thế, hoặc diệt độ. Có người nghe pháp này. Đều đã thành Phật đạo.


34. Các Thế Tôn vị lai. Số nhiều không thể lường. Các Đức Như Lai đó. Cùng phương tiện nói pháp. Tất cả các Như Lai. Dùng vô lượng phương tiện. Độ thoát các chúng sanh. Vào trí vô lậu Phật. Nếu có người nghe pháp. Không ai chẳng thành Phật. Các Phật vốn thệ nguyện. Ta tu hành Phật đạo. Khắp muốn cho chúng sanh. Cũng đồng được đạo này. Các Phật đời vị lai. Dầu nói trăm nghìn ức. Vô số các pháp môn. Kỳ thực vì nhất thừa. Các Phật Lưỡng Túc tôn. Biết pháp thường không tánh. Giống Phật theo duyên sanh. Cho nên nói nhứt thừa. Pháp đó trụ ngôi pháp. Tướng thế gian thường còn. Nơi đạo tràng biết rồi. Đức Phật phương tiện nói. Hiện tại mười phương Phật. Của trời người cúng dường. Số nhiều như hằng sa. Hiện ra nơi thế gian. Vì an ổn chúng sanh. Cũng nói pháp như thế. Biết vắng bặt thứ nhứt. Bởi dùng sức phương tiện. Dầu bày các món đạo. Kỳ thực vì Phật thừa. Biết các hạnh chúng sanh. Thâm tâm nó nghĩ nhớ. Nghiệp quen từ quá khứ. Tánh dục, sức tinh tấn. Và các căn lợi độn. Dùng các món nhân duyên. Thí dụ cùng lời lẽ. Tùy cơ phương tiện nói.


35. Ta nay cũng như vậy. Vì an ổn chúng sanh. Dùng các món pháp môn. Rao bày nơi Phật đạo. Ta dùng sức trí huệ. Rõ tính dục chúng sanh. Phương tiện nói các pháp. Đều khiến được vui mừng. Xá Lợi Phất nên biết! Ta dùng mắt Phật xem. Thấy sáu đường chúng sanh. Nghèo cùng không phước huệ. Vào đường hiểm sanh tử. Khổ nối luôn không dứt. Sâu tham nơi ngũ dục. Như trâu "mao" mến đuôi. Do tham ái tự che. Đui mù không thấy biết. Chẳng cầu Phật thế lớn. Cùng pháp dứt sự khổ. Sâu vào các tà kiến. Lấy khổ muốn bỏ khổ. Phật vì chúng sanh này. Mà sanh lòng đại bi.


36. Xưa, tu ngồi đạo tràng. Xem cây cùng kinh hành. Suy nghĩ việc như vầy. Trí huệ của ta được. Vi diệu rất thứ nhứt. Chúng sanh các căn chậm. Tham vui si làm mù. Các hạng người như thế. Làm sao mà độ được? Bấy giờ các Phạm vương. Cùng các trời Đế Thích. Bốn Thiên vương hộ đời. Và trời Đại Tự Tại. Cùng các thiên chúng khác. Trăm nghìn ức quyến thuộc. Chắp tay cung kính lễ. Thỉnh ta chuyển pháp luân. Ta liền tự suy nghĩ. Nếu chỉ khen Phật thừa. Chúng sanh chìm nơi khổ. Không thể tin pháp đó. Do phá pháp không tin. Rớt trong ba đường dữ. Ta thà không nói pháp. Mau vào cõi Niết bàn. Liền nhớ Phật quá khứ. Thực hành sức phương tiện. Ta nay chứng được đạo. Cũng nên nói ba thừa.


37. Lúc ta nghĩ thế đó. Mười phương Phật đều hiện. Tiếng Phạm an ủi ta. Hay thay! Đức Thích Ca. Bậc Đạo Sư thứ nhứt. Được pháp vô thượng ấy. Tùy theo tất cả Phật. Mà dùng sức phương tiện. Chúng ta cũng đều được. Pháp tối diệu thứ nhứt. Vì các loại chúng sanh. Phân biệt nói ba thừa. Trí kém ưa pháp nhỏ. Chẳng tự tin thành Phật. Cho nên dùng phương tiện. Phân biệt nói các quả. Dầu lại nói ba thừa. Chỉ vì dạy Bồ Tát.


38. Xá Lợi Phất nên biết! Ta nghe các Đức Phật. Tiếng nhiệm mầu rất sạch. Xưng: Nam mô chư Phật! Ta lại nghĩ thế này. Ta ra đời trược ác. Như các Phật đã nói. Ta cũng thuận làm theo. Suy nghĩ việc đó rồi. Liền đến thành Ba Nại. Các pháp tướng tịch diệt. Không thể dùng lời bày. Bèn dùng sức phương tiện. Vì năm Tỳ kheo nói. Đó gọi chuyển pháp luân. Bèn có tiếng Niết bàn. Cùng với A la hán. Tên pháp, tăng sai khác. Từ kiếp xa nhẫn lại. Khen bày Pháp Niết bàn. Dứt hẳn khổ sống chết. Ta thường nói như thế.


39. Xá Lợi Phất phải biết. Ta thấy các Phật tử. Chí quyết cầu Phật đạo. Vô lượng nghìn muôn ức. Đều dùng lòng cung kính. Đồng đi đến chỗ Phật. Từng đã theo các Phật. Nghe nói pháp phương tiện. Ta liền nghĩ thế này. Sở dĩ Phật ra đời. Để vì nói Phật huệ. Nay chính đã đúng giờ.


40. Xá Lợi Phất phải biết! Người căn chậm trí nhỏ. Kẻ chấp tướng kiêu mạn. Chẳng thể tin pháp này. Nay ta vui vô úy. Ở trong hàng Bồ Tát. Chính bỏ ngay phương tiện. Chỉ nói đạo vô thượng. Bồ Tát nghe pháp đó. Đều đã trừ lưới nghi. Nghìn hai trăm La hán. Cũng đều sẽ thành Phật. Như nghi thức nói pháp. Của các Phật ba đời. Ta nay cũng như vậy. Nói pháp không phân biệt. Các Đức Phật ra đời. Lâu xa khó gặp gỡ. Chính sử hiện ra đời. Nói pháp này khó hơn. Vô lượng vô số kiếp. Nghe pháp này cũng khó. Hay nghe được pháp này. Người đó cũng lại khó. Thí như hoa linh thoại. Tất cả đều ưa mến. Ít có trong trời, người. Lâu lâu một lần trổ.


41. Người nghe pháp mừng khen. Nhẫn đến nói một lời. Thời là đã cúng dường. Tất cả Phật ba đời. Người đó rất ít có. Hơn cả hoa Ưu đàm. Các ông chớ có nghi. Ta là vua các pháp. Khắp bảo các đại chúng. Chỉ dùng đạo nhứt thừa. Dạy bảo các Bồ Tát. Không Thanh văn đệ tử.


42. Xá Lợi Phất các ông! Thanh văn và Bồ Tát. Phải biết pháp mầu này. Bí yếu của các Phật. Bởi đời ác năm trược. Chỉ tham ưa các dục. Những chúng sanh như thế. Trọn không cầu Phật đạo. Người ác đời sẽ tới. Nghe Phật nói nhứt thừa. Mê lầm không tin nhận. Phá pháp đọa đường dữ. Người tâm quí trong sạch. Quyết chí cầu Phật đạo. Nên vì bọn người ấy. Rộng khen đạo nhất thừa. Xá Lợi Phất nên biết. Pháp các Phật như thế. Dùng muôn ức phương tiện. Tùy thời nghi nói pháp. Người chẳng học tập tu. Không hiểu được pháp này. Các ông đã biết rõ. Phật là thầy trong đời. Việc phương tiện tùy nghi. Không còn lại nghi lầm. Lòng sinh rất vui mừng. Tự biết sẽ thành Phật.




Sự tích tả
KINH PHÁP HOA
ÔNG NGHIÊM CUNG


Nước Tàu, triều nhà Trần niên hiệu Đại Kiến năm đầu, ở xứ Dương Châu có ông Nghiêm Cung tả kinh Pháp Hoa để phân phát cho người trì tụng. Lúc đó có thần ở miếu Cung Đình Hồ mách mộng cho khách buôn đem hết của trong miếu đưa sang trao cho ông Cung để chi phí về việc tả kinh. Lại một hôm ông Cung mang tiền ra phố mua giấy viết lỡ thiếu 3.000 đồng điếu, bỗng thấy từ trong chợ đi ra một người cầm 3.000 đồng điếu trao cho ông Cung mà nói: "Giúp ông mua giấy". Nói xong biến mất. Rốt đời Tùy, giặc cướp đến Giang Đô đều dặn nhau không nên phạm đến xóm của ông Nghiêm Pháp Hoa (Nghiêm Cung). Nhờ đó mà cả xóm an lành. Đến cuối đời Đường, nhà họ Nghiêm vẫn nối nhau tả kinh không thôi. Vậy thì tả kinh, hay in kinh công đức lớn biết dường nào, không nói đến phước báu tốt đẹp ở nhiều đời sau, mà ngay trong hiện tại cũng không thể lường được, chẳng những là mình khỏi khổ ngay mà ngay mọi người ở gần cũng được nhờ, cả Thần Thánh cũng thường theo hộ trợ như truyện ông Nghiêm Cung đây vậy.




THÍCH NGHĨA
(31) Phương chước hay phương pháp tiện lợi dễ dàng.






Kinh Pháp Hoa